1. Án Tích Là Gì?
Án tích là hậu quả pháp lý của bản án hình sự, gắn liền với người bị kết án trong một khoảng thời gian nhất định sau khi chấp hành xong hình phạt. Theo quy định tại Điều 69 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), người bị kết án được coi là có án tích kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi được xóa án tích. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiệm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.
Nói một cách đơn giản hơn, án tích là “vết tích” pháp lý còn lại trên hồ sơ nhân thân của một người sau khi đã bị Tòa án tuyên phạt về một tội hình sự. Án tích không tự nhiên mất đi ngay sau khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt, mà phải trải qua một thời gian nhất định hoặc phải làm thủ tục xóa án tích theo quy định của pháp luật.
Phân biệt án tích với các khái niệm liên quan
Nhiều người thường nhầm lẫn giữa án tích và tiền án, tiền sự. Cụ thể:
- Tiền án: Chỉ những lần bị kết án trước đó của một người, được dùng để xem xét khi tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
- Tiền sự: Chỉ những vi phạm pháp luật chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thường là vi phạm hành chính.
- Án tích: Là tình trạng pháp lý hiện tại của người đã bị kết án, chưa được xóa án tích.
Sự khác biệt này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng: một người đã có tiền án nhưng đã được xóa án tích thì về mặt pháp lý được coi như chưa bị kết án, và không bị áp dụng tình tiết tái phạm nếu phạm tội mới.
2. Phân Loại Án Tích
Theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành, án tích được chia thành hai loại chính dựa trên cách thức xóa:
2.1. Án tích được xóa theo đương nhiên (xóa án tích tự nhiên)
Đây là trường hợp án tích được xóa tự động khi người bị kết án đáp ứng đủ các điều kiện theo luật định mà không cần làm thủ tục xin xóa. Điều kiện để được xóa án tích đương nhiên bao gồm:
- Đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.
- Đã hết thời hạn thử thách đối với trường hợp án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
- Trong thời gian quy định không thực hiện hành vi phạm tội mới.
2.2. Án tích được xóa theo quyết định của Tòa án
Đây là trường hợp người bị kết án phải làm đơn yêu cầu và Tòa án xem xét, ra quyết định xóa án tích trước thời hạn dựa trên những tiến bộ rõ rệt của người đó trong quá trình chấp hành án. Trường hợp này áp dụng cho những người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm chiến tranh….được quy định tại Chương XIII và Chương XXVI Bộ luật hình sự 2015.
3. Điều Kiện Để Được Xóa Án Tích
3.1. Đối với trường hợp xóa án tích đương nhiên
Theo Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015, người bị kết án đương nhiên được xóa án tích khi có đủ các điều kiện sau:
a) Về hình phạt đã áp dụng:
- Bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo: sau 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách.
- Bị phạt tù đến 05 năm: sau 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.
- Bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm: sau 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.
- Bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng được ân giảm: sau 05 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.
b) Điều kiện bổ sung:
- Trong thời hạn nêu trên, người bị kết án không thực hiện hành vi phạm tội mới.
- Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung (nếu có) và các nghĩa vụ dân sự trong bản án.
3.2. ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP XÓA ÁN TÍCH THEO QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA
Theo quy định tại Điều 71 Bộ luật hình sự 2015, xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội như tội phạm an ninh quốc gia, tội phạm chiến tranh…quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ Luật hình sự 2015. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.
3.3. XÓA ÁN TÍCH TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT
Theo Điều 72 Bộ luật Hình sự 2015, Tòa án có thể xem xét xóa án tích trước thời hạn khi:
- Người bị kết án đã chấp hành được ít nhất 1/3 thời hạn quy định tại Điều 71.
- Có nhiều tiến bộ trong quá trình chấp hành án, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương xác nhận.
4. Những Trường Hợp Không Được Xóa Án Tích
Không phải tất cả mọi trường hợp đều có thể được xóa án tích. Pháp luật quy định một số trường hợp đặc biệt như sau:
- Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm: Nếu trong thời hạn chờ xóa án tích mà người bị kết án lại phạm tội mới, thời hạn xóa án tích sẽ bị tính lại từ đầu.
- Chưa chấp hành xong nghĩa vụ dân sự: Nếu người bị kết án chưa bồi thường thiệt hại, chưa nộp phạt hoặc chưa hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo bản án thì chưa đủ điều kiện xóa án tích đương nhiên.
- Phạm tội trong thời gian thử thách: Đối với án treo, nếu người bị kết án vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới trong thời gian thử thách, quyền được xóa án tích sẽ bị ảnh hưởng.
5. Hậu Quả Pháp Lý Khi Còn Án Tích
Việc còn án tích có thể ảnh hưởng đáng kể đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống của người bị kết án:
5.1. Trong lĩnh vực hình sự
- Bị coi là tái phạm nếu phạm tội mới trong thời gian còn án tích, dẫn đến hình phạt nặng hơn.
- Bị áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm nếu đã tái phạm trước đó.
5.2. Trong lĩnh vực lao động và việc làm
- Khó được tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.
- Không thể trở thành công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức.
- Một số ngành nghề đặc thù (luật sư, công chứng viên, thừa phát lại…) yêu cầu lý lịch tư pháp sạch.
5.3. Trong lĩnh vực xuất nhập cảnh
- Có thể bị từ chối cấp hộ chiếu hoặc visa tùy theo quy định của từng quốc gia.
- Ảnh hưởng đến việc định cư, du học hoặc lao động ở nước ngoài.
5.4. Trong lĩnh vực dân sự và kinh doanh
- Không thể đảm nhiệm một số chức danh quản lý trong doanh nghiệp.
- Ảnh hưởng đến khả năng vay vốn ngân hàng hoặc ký kết hợp đồng với đối tác.
6. Khi Nào Được Coi Là Chưa Bị Kết Án?
Theo Khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự 2015, người bị kết án được coi là chưa bị kết án trong các trường hợp sau:
- Người bị kết án đã được xóa án tích theo quy định tại các Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật Hình sự.
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
- Người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều này có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng: một khi đã được xóa án tích, người đó có đầy đủ quyền công dân, không bị coi là có tiền án khi khai lý lịch tư pháp, và không bị áp dụng các tình tiết tăng nặng liên quan đến tái phạm nếu chẳng may vi phạm pháp luật trong tương lai.
7. Lời Khuyên Từ Luật Sư
Việc xóa án tích không chỉ là thủ tục pháp lý đơn thuần mà còn mang ý nghĩa rất lớn đối với tương lai của người bị kết án và gia đình họ. Để đảm bảo quá trình xóa án tích diễn ra nhanh chóng, đúng pháp luật và tránh những sai sót không đáng có, người có nhu cầu nên:
- Chuẩn bị hồ sơ đầy đủ ngay từ đầu để tránh phải bổ sung nhiều lần.
- Theo dõi chặt chẽ thời hạn để nộp đơn đúng thời điểm.
- Tham khảo ý kiến luật sư có kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự để được tư vấn cụ thể về trường hợp của mình.
Nếu bạn hoặc người thân đang có nhu cầu xóa án tích và cần được hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ với đội ngũ luật sư của Hỏi Đáp Pháp Luật Online để được tư vấn miễn phí và tận tình nhất.
Bài viết được biên soạn dựa trên Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và các văn bản pháp luật liên quan. Nội dung mang tính chất tham khảo, không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên nghiệp.





